Tổng quan
Nhiễm trùng Helicobacter pylori (HP) xảy ra khi vi khuẩn HP lây nhiễm vào dạ dày, chiếm hơn một nửa dân số thế giới, và 70% dân số Việt Nam. Đây là nguyên nhân phổ biến của viêm loét dạ dày tá tràng, đặt biệt 1% số người nhiễm HP có triệu chứng có thể dẫn đến Ung thư dạ dày. Tuy nhiên 90% người nhiễm HP không có triệu chứng, chỉ 10% xuất hiện các dấu hiệu và triệu chứng của Viêm loét dạ dày tá tràng
Nguyên nhân
Vi khuẩn HP có thể truyền từ người này sang người khác khi tiếp xúc trực tiếp với nước bọt, chất nôn hoặc phân. HP cũng có thể lây lan qua thức ăn hoặc nước bị ô nhiễm.
Các yếu tố nguy cơ nhiễm H. pylori có liên quan đến điều kiện sống chẳng hạn như:
- Sống trong điều kiện đông đúc.
- Sống mà không có nguồn cung cấp nước sạch đáng tin cậy.
- Sống chung với người bị nhiễm HP.
Triệu chứng
Hầu hết những người bị nhiễm HP sẽ không bao giờ có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng nào. Không rõ lý do tại sao lại như vậy, nhưng một số người có thể sinh ra đã có nhiều khả năng chống lại tác hại của vi khuẩn HP.
Khi các dấu hiệu hoặc triệu chứng xảy ra với nhiễm HP có thể bao gồm:
- Đau hoặc nóng rát ở bụng
- Buồn nôn
- Ăn mất ngon
- Ợ hơi thường xuyên
- Chướng bụng
- Giảm cân không chủ ý
- Khó nuốt
- Phân có máu hoặc đen
- Chất nôn có máu hoặc màu nâu đen
Các biến chứng
Các biến chứng liên quan đến nhiễm H. pylori bao gồm:
- Loét dạ dày: HP có thể làm hỏng lớp màng bảo vệ của dạ dày. Điều này có thể cho phép acide trong dạ dày tạo ra vết loét loét. Khoảng 8-10% người nhiễm HP sẽ bị loét.
- Viêm niêm mạc dạ dày.: Nhiễm HP có thể kích thích dạ dày của bạn, gây ra viêm.
- Ung thư dạ dày. Nhiễm HP là một yếu tố nguy cơ hàng đầu đối với ung thư dạ dày.
Chẩn đoán
Một số xét nghiệm và quy trình được sử dụng để xác định nhiễm HP. Xét nghiệm là quan trọng để phát hiện HP nhưng cũng cần xét nghiệm sau khi điều trị để chắc chắn rằng vi khuẩn này đã được loại bỏ.
- Xét nghiệm phân: phổ biến để phát hiện HP được gọi là xét nghiệm tìm kháng nguyên HP trong phân. Thuốc kháng sinh, thuốc ức chế tiết acide được gọi là thuốc ức chế bơm proton (PPI) và bismuth (Pepto-Bismol, Trymo) có thể ảnh hưởng đến độ chính xác của các xét nghiệm này. Nếu trước đây bạn đã được chẩn đoán và điều trị HP, bác sĩ thường sẽ đợi ít nhất bốn tuần sau khi bạn hoàn thành điều trị kháng sinh để xét nghiệm phân của bạn. Nếu bạn đang dùng PPI , bác sĩ sẽ yêu cầu bạn ngừng dùng PPI trong một hoặc hai tuần trước khi thử nghiệm. Một xét nghiệm được gọi là xét nghiệm phản ứng chuỗi polymerase trong phân (PCR) có thể phát hiện nhiễm vi khuẩn HP trong phân của bạn và các đột biến có thể đề kháng với thuốc kháng sinh. Xét nghiệm này đắt hơn và có thể không có sẵn ở tất cả các trung tâm y tế.
- Kiểm tra hơi thở. Trong quá trình kiểm tra hơi thở, bạn nuốt một viên thuốc, chất lỏng có chứa các phân tử carbon đồng vị C13. Nếu bạn bị nhiễm HP carbon sẽ được giải phóng khi dung dịch được phân hủy trong dạ dày của bạn.
Cơ thể bạn hấp thụ carbon và thải ra ngoài khi bạn thở ra. Bạn thở ra vào một chiếc túi và nhân viên xét nghiệm sẽ sử dụng một thiết bị đặc biệt để phát hiện các phân tử carbon đồng vị C13.
Cũng như xét nghiệm phân PPI bismuth và kháng sinh có thể ảnh hưởng đến độ chính xác của xét nghiệm này. Nếu bạn đang dùng PPI bác sĩ sẽ yêu cầu bạn ngừng dùng thuốc PPI trong một hoặc hai tuần trước khi xét nghiệm. Nếu trước đó bạn đã được chẩn đoán và điều trị HP, bác sĩ của bạn thường sẽ đợi ít nhất bốn tuần sau khi bạn hoàn thành việc điều trị bằng kháng sinh để thực hiện kiểm tra hơi thở.
Nội soi thử Clotest: Trong quá trình kiểm tra, bác sĩ luồn một ống soi mềm dài được trang bị một camera cực nhỏ xuống cổ họng và thực quản và vào dạ dày và tá tràng của bạn. Dụng cụ này cho phép bác sĩ của bạn xem bất kỳ bất thường nào trong đường tiêu hóa trên của bạn và lấy các mẫu mô (sinh thiết). Những mẫu này được phân tích để tìm nhiễm HP.
Thử nghiệm này có thể được lặp lại sau khi điều trị tùy thuộc vào những gì được tìm thấy ở lần nội soi đầu tiên hoặc nếu các triệu chứng vẫn tồn tại sau khi điều trị HP. Ở lần kiểm tra thứ hai này, sinh thiết có thể được thực hiện để chắc chắn rằng HP đã được loại bỏ. Nếu trước đó bạn đã được chẩn đoán và điều trị HP, bác sĩ của bạn thường sẽ đợi ít nhất bốn tuần sau khi bạn hoàn thành việc điều trị bằng kháng sinh để thực hiện kiểm tra hơi thở. Nếu bạn đang dùng PPI bác sĩ sẽ yêu cầu bạn ngừng dùng thuốc PPI trong một hoặc hai tuần trước khi xét nghiệm.
Xét nghiệm này không phải lúc nào cũng được khuyến nghị chỉ để chẩn đoán nhiễm HP vì nó xâm lấn hơn xét nghiệm hơi thở hoặc phân. Nhưng nó có thể được sử dụng trong các trường hợp: bạn trên 40 tuổi, xuất hiện các triệu chứng khó nuốt, đau không đáp ứng điều trị, nôn ra máu, tiêu phân đen, sụt cân hay thiếu máu không lý giải được, gia đình có người bị Ung thư dạ dày hoặc để thực hiện xét nghiệm chi tiết như nuôi cấy- kháng sinh đồ, PCR, giải phẫu bệnh…để bác sĩ xác định chính xác loại kháng sinh nào sẽ kê đơn để điều trị HP, đặc biệt nếu kháng sinh thất bại cũng như loại trừ hoặc xác định các tình trạng tiêu hóa khác.
Điều trị
Nhiễm khuẩn HP thường được điều trị bằng ít nhất hai loại kháng sinh khác nhau cùng một lúc (Tetracyclin, Metronidazole, Amoxicillin, Levofloxacin, Clarithromycin…) để giúp ngăn vi khuẩn phát triển đề kháng với một loại kháng sinh cụ thể. Kết hơp với một loại thuốc ức chế tiết acide để giúp niêm mạc dạ dày hồi phục và tạo môi trường thuận lợi để tăng tác dụng tiệt trừ của kháng sinh.
Các loại thuốc có thể ngăn chặn axit bao gồm:
- Thuốc ức chế bơm proton (PPI). Những loại thuốc này ngăn chặn axit được sản xuất trong dạ dày. Một số ví dụ về PPI là omeprazole (Prilosec), esomeprazole (Nexium), lansoprazole (Prevacid) và pantoprazole (Protonix), rabeprazole (Pariet)
- Thuốc chẹn histamine (H-2). Những loại thuốc này ngăn chặn một chất gọi là histamine, kích hoạt sản xuất axit. Một ví dụ là cimetidine (Tagamet HB), ranitidine (Zantac)
- Thường được biết đến với tên thương hiệu Pepto-Bismol, Trymo loại thuốc này hoạt động bằng cách bao phủ vết loét và bảo vệ vết loét khỏi acide dạ dày.
Bạn nên làm xét nghiệm tìm HP ít nhất bốn tuần sau khi điều trị. Nếu các xét nghiệm cho thấy việc điều trị không thành công, bạn có thể trải qua một đợt điều trị khác với sự kết hợp các loại thuốc kháng sinh khác nhau.
Phòng ngừa
Vi khuẩn HP có thể truyền từ người này sang người khác khi tiếp xúc trực tiếp với nước bọt, chất nôn hoặc phân. HP cũng có thể lây lan qua thức ăn hoặc nước bị ô nhiễm. Nên vệ sinh ăn uống có thể giảm nguy cơ Nhiễm HP.
Ở những khu vực thường xảy ra tình trạng nhiễm HP và các biến chứng của nó, cũng như nhóm đối tượng nguy cơ, bác sĩ có thê xét nghiệm tìm H. pylori cho những người khỏe mạnh.
Nếu bạn lo lắng về việc nhiễm HP hoặc nghĩ rằng bạn có thể có nguy cơ cao bị ung thư dạ dày, hãy nói chuyện với bác sĩ của bạn để cùng nhau quyết định xem bạn có nên được sàng lọc HP hay không.
